
Ngày 5-6-1911, từ Bến Nhà Rồng (ảnh), Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, bắt đầu cuộc hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Nguồn: Tư liệu/TTXVN
Một quyết định làm thay đổi vận mệnh dân tộc
Đầu thế kỷ XX, đất nước chìm trong đêm dài nô lệ. Nhiều phong trào yêu nước liên tiếp nổ ra nhưng đều thất bại. Con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến không thành công. Con đường dựa vào các nước tư bản cũng không mang lại kết quả như mong muốn. Trong bối cảnh ấy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã lựa chọn một con đường hoàn toàn khác.
Điều đặc biệt ở Nguyễn Tất Thành không chỉ là lòng yêu nước cháy bỏng mà còn là tư duy độc lập, tinh thần tự chủ và khát vọng tìm ra một con đường mới cho dân tộc. Người không chấp nhận đi theo lối mòn. Người muốn tận mắt chứng kiến thế giới, tìm hiểu bản chất của các chế độ xã hội, nghiên cứu những cuộc cách mạng đã làm thay đổi lịch sử nhân loại để tìm câu trả lời cho câu hỏi lớn nhất lúc bấy giờ: Làm thế nào để cứu nước, cứu dân? Quyết định ra đi ngày 05/6/1911 thể hiện tầm nhìn vượt trước thời đại của Nguyễn Tất Thành. Đó là sự lựa chọn của một người yêu nước chân chính dám từ bỏ những gì quen thuộc để dấn thân vào hành trình đầy gian nan vì tương lai dân tộc.
Lịch sử đã chứng minh giá trị của lựa chọn ấy. Sau ba mươi năm bôn ba qua nhiều quốc gia, nhiều châu lục, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra con đường đưa dân tộc đi từ thân phận nô lệ đến độc lập, tự do. Giá trị lớn nhất của ngày 5/6/1911 không chỉ là sự kiện ra đi tìm đường cứu nước, mà là việc dân tộc Việt Nam đã tìm thấy con đường phát triển đúng đắn cho mình.

nguồn: thanhuytphcm.vn
Từ khát vọng cứu nước đến khát vọng phát triển đất nước
Nếu nhìn lại hành trình hơn một thế kỷ của dân tộc Việt Nam kể từ ngày Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng năm 1911, có thể thấy một dòng chảy xuyên suốt không ngừng nghỉ: đó là khát vọng dân tộc. Trong từng giai đoạn lịch sử, khát vọng ấy mang những nội hàm khác nhau, nhưng luôn hướng tới mục tiêu cao nhất là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hùng cường và nhân dân được sống trong tự do, hạnh phúc. Khi đất nước chìm dưới gót giày thực dân, khát vọng lớn nhất của dân tộc là giành lại độc lập. Đó là khát vọng được làm chủ vận mệnh của mình, được sống trên chính quê hương mình với tư cách của một dân tộc tự do. Chính khát vọng ấy đã thôi thúc biết bao thế hệ người Việt Nam đứng lên đấu tranh, hy sinh vì Tổ quốc; và cũng chính khát vọng ấy đã đưa người thanh niên Nguyễn Tất Thành vượt đại dương đi tìm con đường cứu nước. Tuy nhiên, giá trị lớn lao trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nằm ở mục tiêu giành độc lập dân tộc. Điều sâu sắc hơn là Người luôn nhìn độc lập dân tộc trong mối quan hệ hữu cơ với hạnh phúc của nhân dân và tương lai phát triển của đất nước. Độc lập không phải là đích đến cuối cùng mà là điều kiện tiên quyết để nhân dân được sống ấm no, đất nước được phát triển phồn vinh. Bởi vậy, ngay từ những ngày đầu của Nhà nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống nhân dân như những nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn của cách mạng.
Nhìn từ chiều dài lịch sử, hành trình phát triển của đất nước có thể được khái quát qua ba nấc thang lớn. Nấc thang thứ nhất là giành độc lập dân tộc. Nấc thang thứ hai là thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng. Và nấc thang thứ ba - cũng là nhiệm vụ của thời đại hôm nay - là xây dựng một nước Việt Nam phát triển, giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.
Sau 40 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có quy mô kinh tế thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Đông Nam Á; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ; vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đó không chỉ phản ánh hiệu quả của đường lối đổi mới mà còn cho thấy sức mạnh to lớn của khát vọng vươn lên trong toàn xã hội. Tuy nhiên, càng phát triển, chúng ta càng nhận thức rõ rằng phía trước vẫn còn nhiều thách thức lớn. Khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến vẫn còn đáng kể; yêu cầu nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ đang đặt ra hết sức cấp bách. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo đang trở thành những động lực phát triển mới, nếu không đổi mới tư duy và hành động quyết liệt, nguy cơ tụt hậu sẽ ngày càng hiện hữu.
Đại hội XIII của Đảng đã khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và xác định mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trên nền tảng đó, những định hướng lớn được xác lập Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đây không chỉ là sự kế thừa mục tiêu phát triển đã được xác định từ Đại hội XIII mà còn là bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng trước những biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Nếu ở đầu thế kỷ XX, nhiệm vụ lịch sử của dân tộc là giành độc lập, thống nhất đất nước thì trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, nhiệm vụ lịch sử đặt ra là đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, có nền quản trị tiên tiến, xã hội văn minh và đời sống nhân dân ngày càng hạnh phúc. Đây chính là sự phát triển tiếp nối của khát vọng dân tộc qua các thời kỳ lịch sử. Điểm đáng chú ý trong tư duy phát triển của Đại hội XIV không chỉ nằm ở mục tiêu tăng trưởng kinh tế, mà còn ở yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín; phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, con người Việt Nam; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng cống hiến của toàn dân tộc. Đây chính là những động lực nội sinh có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước.
Nhìn từ chiều dài lịch sử hơn một thế kỷ, có thể thấy một sự thống nhất xuyên suốt trong mục tiêu cách mạng Việt Nam: từ khát vọng cứu nước của Nguyễn Tất Thành năm 1911 đến khát vọng xây dựng nước Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên mới đều bắt nguồn từ mong muốn cháy bỏng đưa dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Hành trình ấy khác nhau về nhiệm vụ lịch sử, nhưng thống nhất ở một điểm cốt lõi: tất cả đều vì tương lai của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Theo bước chân Người trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng đi tìm đường cứu nước. Thời đại đã thay đổi, nhiệm vụ lịch sử của dân tộc cũng đã thay đổi, nhưng điều còn nguyên giá trị là tinh thần dám nghĩ, dám đi, dám mở đường vì tương lai của đất nước.
Nhìn lại hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều làm nên tầm vóc vĩ đại của Người không chỉ là tìm ra con đường giải phóng dân tộc mà còn ở năng lực vượt lên những giới hạn của tư duy đương thời. Chính tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược và khát vọng lớn lao ấy đã tạo nên bước ngoặt của lịch sử Việt Nam.

Nguồn Báo Chính phủ
Ngày nay, đất nước không còn đứng trước yêu cầu giành độc lập dân tộc, nhưng lại đang đứng trước một yêu cầu có ý nghĩa lịch sử không kém: làm thế nào để phát triển nhanh, bền vững, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành quốc gia phát triển vào giữa thế kỷ XXI. Trong bối cảnh ấy, bài học ngày 5/6/1911 còn vẹn nguyên ý nghĩa thời sự sâu sắc. Đó là bài học về bản lĩnh đổi mới; bài học về tư duy độc lập, tự chủ; bài học về khát vọng vươn lên và tinh thần không bằng lòng với những gì đã có. Một dân tộc muốn phát triển không thể chỉ dựa vào những thành tựu của quá khứ mà phải liên tục đổi mới để thích ứng với những yêu cầu mới của thời đại.
Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, tiếp bước người đi trước hôm nay trước hết là tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý và phục vụ nhân dân. Trong một thế giới vận động nhanh, nếu tư duy chậm đổi mới sẽ trở thành lực cản đối với sự phát triển. Yêu cầu đặt ra là mỗi cán bộ phải thực sự trở thành người dẫn dắt đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; chủ động tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới và phương thức quản trị hiện đại để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Đối với thế hệ trẻ, hành trình của Bác năm 1911 là lời nhắc nhở về sức mạnh của khát vọng. Đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới rất cần những người trẻ có hoài bão lớn, có năng lực hội nhập quốc tế, có khả năng làm chủ khoa học công nghệ và có tinh thần cống hiến cho cộng đồng. Trong thời đại kinh tế số và xã hội số, tri thức, sáng tạo và đổi mới đang trở thành nguồn lực quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Vì vậy, đầu tư cho con người, nhất là thế hệ trẻ, chính là đầu tư cho tương lai của đất nước.
Đối với toàn xã hội, tiếp bước hành trình mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở ra hơn một thế kỷ trước chính là cùng nhau xây dựng một Việt Nam phát triển, thịnh vượng và hạnh phúc. Mỗi người dân, mỗi cơ quan, mỗi địa phương đều có trách nhiệm đóng góp vào mục tiêu chung ấy bằng tinh thần lao động sáng tạo, ý thức trách nhiệm và khát vọng vươn lên không ngừng.
Ngày 5/6/1911 đã lùi xa hơn một thế kỷ nhưng vẫn sống động trong tâm thức dân tộc như biểu tượng của khát vọng và tầm nhìn. Từ Bến Nhà Rồng năm ấy đến khát vọng Việt Nam hùng cường hôm nay là sự tiếp nối của một dòng chảy lịch sử không ngừng nghỉ. Những con người thế hệ Hồ Chí Minh hôm nay có trách nhiệm làm nên kỳ tích phát triển đất nước. Đó vừa là sứ mệnh của thời đại, vừa là sự tiếp nối xứng đáng đối với hành trình vĩ đại bắt đầu từ ngày 5/6/1911.
Phạm Quỳnh Nga